Nguyên nhân dẫn đến lạm phát trong nền kinh tế
Lạm phát là hiện tượng tăng mức giá chung một cách
liên tục của tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ theo một khoảng thời gian nhất
định, điều này dẫn đến việc đồng tiền bị mất giá trị hơn so với trước đó. Khi mức
giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn
so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị
tiền tệ.
Lạm phát là một trong những
hiện tượng kinh tế phản ánh sự suy giảm sức mua của đồng tiền. Khi lạm phát
diễn ra, các mặt hàng hóa hay dịch vụ mua bán sẽ có dấu hiệu tăng mức giá
chung. Điều này khiến giá trị tiền tệ bị mất giá trị, cùng là một số tiền nhưng
không thể mua được số lượng hàng hóa nhiều như trước nữa.
Không chỉ là vấn đề trong nước,
so với nước ngoài, lạm phát còn khiến định giá tiền có sự chênh lệch lớn giữa 2
quốc gia.
Đối với tất cả các
quốc gia dùng tiền mặt để làm trung gian thanh toán thì yếu tố lạm phát là hiện
tượng kinh tế tự nhiên, được tính theo đơn vị % và chia làm ba mức độ:
·
Tự nhiên: 0 – dưới 10%
(mức lạm phát dưới 5% là mức làm phát mong muốn của hầu hết các quốc gia)
·
Phi mã: 10% đến dưới
1000%
· Siêu lạm phát: trên 1000%
Nguyên
nhân của lạm phát
Trên thực tế lạm phát có thể do
rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng hai nguyên nhân chính nổi bật nhất là
lạm phát do cầu kéo và lạm phát do chi phí đẩy.
Lạm phát do cầu kéo
Có thể lý giả như khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên, sẽ kéo theo giá cả tăng. Đồng thời, dẫn đến giá cả của hàng loạt hàng hóa khác cũng “leo thang”. Như vậy, giá trị của đồng tiền cũng trở nên mất giá, bạn phải dùng nhiều tiền hơn để mua hàng hóa.
Ví dụ: khi giá
xăng tăng lên thì hầu như tất cả các hàng hóa dịch vụ đều tăng theo như taxi,
grab, hàng nhu yếu phẩm…
Lạm phát do chi phí đẩy
Chi phí đẩy được liệt kê là: giá
cả nguyên liệu mua vào, thuế, tiền lương công nhân, chi trả bảo hiểm, tiền máy
móc… của một doanh nghiệp. Một khi những chi phí này tăng lên sẽ thúc đẩy doanh
nghiệp tăng giá sản phẩm bán ra thị trường để đảm bảo lợi nhuận. Điều này gây ra
hiện trạng mức giá chung của toàn thể nền kinh tế tăng theo.
Đây là vấn đề lạm phát xuất phát
từ các doanh nghiệp mà ra. Từ một doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả muốn nâng
tiền lương cho nhân viên, sẽ kéo theo các doanh nghiệp khác tăng theo dù không
biết kinh doanh có đạt doanh thu hay không. Bởi, họ sử dụng cách tăng giá sản
phẩm trên thị trường để đảm bảo lợi nhuận.
Lạm phát do cầu thay đổi
Khi thị trường giảm nhu cầu tiêu
thụ về một mặt hàng nào đó, nhưng lại là mặt hàng được cung cấp độc quyền (như
giá điện ở Việt Nam), thì chúng vẫn không giảm giá được. Đồng thời, dẫn đến
lượng cầu về một mặt hàng khác tăng lên và cũng tăng giá.
Lạm phát do xuất khẩu
Là hiện tượng lạm phát do tổng
cung và tổng cầu mất cân bằng. Tổng cầu từ trong nước lẫn nước ngoài khiến tổng
cung không đủ để cung ứng. Khi đó, các sản phẩm thiếu hụt này sẽ đẩy giá cả
lên.
Lạm phát do nhập khẩu
Khi hàng hóa nhập khẩu tăng do
thuế hoặc giá cả trên thế giới, khiến giá bán ra trong nước cũng tăng theo. Và
nếu mức giá chung bị giá cả của nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát.
Lạm phát do tiền tệ
Đây là nguyên nhân từ các ngân
hàng khiến lượng tiền trong nước tăng, phát sinh lạm phát. Khi ngân hàng tiến
hành mua ngoại tệ vào để giữ đồng tiền trong nước không mất giá. Hoặc, có thể
do ngân hàng mua công trái theo yêu cầu nhà nước, khiến cho lượng tiền trong
lưu thông tăng lên nhiều.
Các mức độ của lạm phát
Lạm phát bao gồm 3 mức độ chính
từ đơn giản đến phức tạp, được đánh giá dựa theo tỷ lệ phần trăm của lạm phát.
Cụ thể:
·
Lạm phát tự nhiên: Có
tỷ lệ lạm phát từ 0 – <10%. Nền kinh tế lúc này hoạt động bình thường ít rủi
ro và đời sống ổn định.
·
Lạm phát phi mã: Là
mức độ lạm phát xảy ra với giá cả tăng nhanh, tỷ lệ từ 10 – < 1.000%. Loại
này có thể sẽ gây biến động nền kinh tế.
·
Siêu lạm phát: xảy
ra khi lạm phát tăng nhanh với tốc độ chóng mặt, tỷ lệ trên 1.000%. Siêu lạm
phát để lại hậu quả to lớn và khó lòng khắc phục. Tuy nhiên, siêu lạm phát rất
hiếm khi xảy ra.


Comments
Post a Comment